Tài nguyên dạy học

Liên kết website

Sắp xếp dữ liệu

Chào mừng quý vị đến với website của trường THCS Liêng Trang

Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tài liệu của Thư viện về máy tính của mình.
Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
Gốc > Tư liệu lịch sử >

lich su 1000 năm Thang Long - Ha Noi

Thăng Long - Hà Nội: chặng đường lịch sử 1000 năm

06-01-2010 16:31

Năm nay, 2010, cả nước cùng hướng tới đại lễ kỷ niệm 1000 năm Thăng Long - Hà Nội. Đây là một sự kiện trọng đại trong lịch sử nước nhà.

 

 

Hồ Gươm (sưu tầm)

 
 

Ngay từ thời vua Hùng dựng nước đến các bậc đế vương như An Dương Vương, Hai bà Trung, Lý Nam Đế, Ngô Quyền đã chọn đất thuộc vùng Thăng Long - Hà Nội để đóng đô, xây dựng nền độc lập.

 

Năm 1010, ngay sau khi lên ngôi, Lý Công Uẩn quyết định dời đô từ Hoa Lư (Ninh Bình) ra thành Đại La, đổi tên thành Đại La là thành Thăng Long. Năm 2010 nhà Lý lập Văn Miếu và đến năm 1075 mở khoa thi Nho học đầu tiên. Trong công cuộc phục hưng nền độc lập, nhà Lý đã đặt viên gạch đầu tiên xây dựng nền tảng sự nghiệp văn hóa, giáo dục, đặt nền tảng cho nền giáo dục đại học và nhiều ngành khoa học của nước nhà. Vào giai đoạn thịnh đạt của nhà Lý, kinh đô Thăng Long đã thực sự trở thành một trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa lớn nhất và tiêu biểu cho cả nước.

 

Sau 215 năm cầm quyền, triều Lý lâm vào tình trạng suy yếu và năm 1226, nhà Trần thay thế nhà Lý thiết lập lại trật tự chính trị, xã hội. Thăng Long thời Trần cơ bản vẫn giữ ranh giới cũ, được quy hoạch lại thành 61 phường với dân số đông đúc hơn, tập trung trong khu vực dân sự; Nho học được coi trọng và phát triển; chế độ khoa cử được tổ chức chặt chẽ; Khoa học quân sự thời Trần được coi là yếu tố cấu thành văn hóa Đại Việt, tạo nên hào khí Đông A. Kinh đô Thăng Long thời Trần là thành phố mở, hội tụ tinh hoa văn hóa của nhiều nước trên thế giới.

 

Sau gần 500 năm giành được độc lập, đến nhà Hồ, nước ta lại bị phong kiến phương Bắc đô hộ. Năm 1418, Lê Lợi dấy binh khởi nghĩa. Sau 9 năm kháng chiến, nghĩa quân Lam Sơn đã giải phóng được các vùng từ Nam đến Bắc. Lê Lợi lên ngôi năm 1428 và đổi tên kinh đô thành Đông Kinh. Thời Hậu Lê, kinh thành Thăng Long được quy hoạch và xây dựng theo quy cách đế đô của quốc gia quân chủ tập quyền. Kinh thành được mở rộng sang phía Đông. Kiến trúc kinh thành thời Lê đạt đến trình độ mực thước, hài hòa. Khu dân sự tiếp tục được phát triển và quy hoạch lại gồm huyện Quảng Đức và Vĩnh Xương, mỗi huyện có 18 phường. Đông Kinh lúc này đã có những phố chợ buôn bán tấp nập, nhiều phường thủ công nổi tiếng như: Nghi Tàm, Thụy Chương, Yên Thái, Hàng Đào, Tranh Hàng Trống…Nước Đại Việt dưới triều vua Lê Thánh Tông đã đạt tới đỉnh cao của một quốc gia phong kiến độc lập. Có thể nói thời Lê, Mạc, Lê Trung Hưng tuy có những biến động về chính trị nhưng Thăng Long vẫn là một thành thị - thương cảng sầm uất nhất cả nước vào loại lớn ở Châu Á.

 

Cuối năm 1788, Kinh đô và đất nước Đại Việt lại phải đương đầu với sự xâm lược của đế chế Mãn Thanh. Vua Quang Trung lãnh đạo nghĩa quân Tây Sơn từ Huế tiến ra Bắc, giải phóng Thăng Long. Ông đã cho tu sửa, đắp lại những nơi bị sụp đổ. Lịch sử triều Tây Sơn tuy ngắn ngủi nhưng đã để lại những dấu ấn đậm nét trong trang sử Thăng Long – Hà Nội văn hiến, anh hùng.

 

Đến thời nhà Nguyễn, kinh đô vẫn đặt ở Phú Xuân và Thăng Long được gọi là Bắc Thành. Năm 1831 vua Minh Mạng lập tỉnh Hà Nội, Thăng Long được gọi là Hà Nội. Cuối thời Nguyễn, trước những hành động xâm lược của thực dân Pháp, Hà Nội đã đứng lên kháng chiến. Tuy nhiên sự nhu nhược của triều Nguyễn đã khiến nước ta rơi vào tay thực dân Pháp. Mặc dù thực dân Pháp thi hành chính sách đàn áp, khủng bố tàn bạo nhưng vẫn không dập tắt được phong trào đấu tranh của nhân dân Hà Nội. Ngày 19/8/1945 dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân Hà Nội đã nổi dậy cướp chính quyền, giành độc lập. Tại Quốc hội lần thứ nhất năm 1946, Hà Nội được vinh dự được chọn làm thủ đô của cả nước trong kỷ nguyên mới.

 

Thời kỳ khánh chiến chống Pháp và Mỹ, nhân dân Hà Nội luôn đoàn kết một lòng, khi là trận tuyến, khi là hậu phương chi viện cho chiến trường, cùng cả nước đấu tranh thống nhất nước nhà vào năm 1975. Tháng 4/1976, Hà Nội được Quốc hội chung của cả nước quyết định la Thủ đô của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Thực hiện Di chúc của Bác Hồ, Hà Nội dấy lên phong trào thi đua yêu nước với quyết tâm xây dựng Thủ đô “đàng hoàng hơn, to đẹp hơn”. Các công trình lớn như sân bay Nội Bài, cầu Thăng Long, cầu Đuống, cầu Chương Dương, và nhiều khu cao tầng được xây dựng và đưa vào sử dụng. Một số ngành công nghiệp điện tử, chế biến thực phẩm, cơ khí nông nghiệp, hóa chất được hình thành. Nông nghiệp cơ giới hóa, ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật. Kinh tế đối ngoại bắt đầu hình thành. Kinh tế Thủ đô có những bước tiến, cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Những năm đầu thế kỷ 21, Hà Nội thay đổi từng ngày, trở thành một đô thị văn minh, hiện đại. Năm 2008 Quốc hội có Nghi quyết mở rộng địa giới hành chính Thủ đô Hà Nội. Theo đó Hà Nội được mở rộng bao gồm toàn bộ tỉnh Hà Tây, huyện Mê Linh (Vĩnh Phúc) và 4 xã của huyện Lương Sơn (Hòa Bình). Đến nay, Hà Nội có diện tích 3.340 km2 với gần 6,5 triệu dân, 29 đươn vị huyện, quận, 577 xã phường, thị trấn.

 

Trải qua bao biến thiên của lịch sử, Thăng Long - Hà Nội luôn là trung tâm chính trị, kinh tế và văn hóa của cả nước, là nơi kết tinh tinh hoa của dân tộc, hội tụ nhân tài của đất nước.

 

L.H (Biên tập từ các nguồn thông tin

 
 
Nhắn tin cho tác giả
Võ Thị Kim Sen @ 22:37 07/10/2010
Số lượt xem: 1339
Số lượt thích: 0 người
Avatar

Chồng "qua lại" với bạn thân, tôi biết làm gì?

(tamlyhoc.vn) Một buổi chiều, khi vẫn đang ở công sở, tôi đã nhận được một tin nhắn từ số lạ “Chồng bạn đang ở cùng người phụ nữ khác ngay trong nhà của hai người”.

Đã 3 ngày sau khi chứng kiến chồng và người bạn gái thân nhất của mình quan hệ với nhau mà tôi vẫn chưa biết mình nên làm gì.

Chúng tôi đến với nhau qua lời giới thiệu của bạn bè, yêu và kết hôn chỉ trong vòng hai năm. Tất cả đến như một câu chuyện cổ tích, đẹp, lãng mạn và không ít những bất ngờ.

Trong những ngày đầu mới kết hôn, anh ấy biến tôi trở thành người phụ nữ hạnh phúc nhất thế giới này. Luôn ân cần, hỏi han, luôn biết tôi cần gì vào thời điểm nào… Những quán ăn có món tôi thích dù xa đến đâu anh vẫn đưa tôi đến hay mua cho tôi. Những cửa hàng hay chiếc áo đẹp tôi vừa trầm trồ khen, hôm sau anh đã khiến tôi bất ngờ với món quà được gói ghém cẩn thận…. Tôi là vậy, hạnh phúc đôi khi thật đơn giản.

Nhưng tất cả không kéo dài được lâu, những điều tốt đẹp mà tôi tự hào và hãnh diện với bạn mình đều dần biến mất. Những ưu điểm trước đây của anh khiến tôi yêu mê đắm dần trở thành nhược điểm và làm tôi căm ghét.
 
Khi tôi mang thai, anh vẫn mải mê với ca hát, chè chén với bạn bè, bỏ mặc tôi với những buổi tối cô đơn, phải ở nhà một mình. Thế mà trước đây, tôi từng nghĩ, anh ấy là con người vui vẻ, biết cách thư giãn giải trí. Anh ấy thường về nhà rất muộn, có khi say mềm, có khi lất khất, và không còn sức để hỏi han tôi và đứa con đang mang trong mình. Tôi buồn, tuyệt vọng, rồi tuyệt vọng hơn.

Ngày đen tối ấy đến giờ tôi vẫn nhớ mãi, tôi đau bụng khủng khiếp vào cái đêm anh bận đi sinh nhật bạn bè, điện thoại luôn luôn có câu “Thuê bao quý khách vừa gọi không thể liên lạc được”. Và kết cục, tôi một thân một mình đến bệnh viện và không giữ được đứa con đầu lòng của mình.

Từ hôm đó, chồng tôi đã thay đổi, anh biết về nhà sớm hơn và lại quan tâm đến tôi như thuở mới cưới. Ngày nào anh cũng nói những lời xin lỗi và động viên, vẽ ra cảnh một gia đình với thật nhiều con sau này… Mọi chuyên cứ thế qua đi, tôi dần lấy lại sức khỏe và tâm lý và gần với chồng mình hơn.

Rồi có một ngày, người bạn của tôi thì thầm vào tai “Bạn nên cảnh giác với L. Mình phát hiện chồng bạn rất thân mật và tình cảm với L, trông như một đôi đang yêu…”. Lúc đó tôi chỉ cười và vô tư nói rằng “Tôi là phụ nữ duy nhất của chồng. Và đừng nói những chuyện không hay về L, người tôi luôn xem là bạn thân nhất”.

Một buổi chiều, khi vẫn đang ở công sở, tôi đã nhận được một tin nhắn từ số lạ “Chồng bạn đang ở cùng người phụ nữ khác ngay trong nhà của hai người”.

Tôi tất tả chạy về nhà mình – tổ ấm tôi dày công chăm sóc mấy năm qua, và thật không ngờ, ngay trên chiếc giường ngủ của mình, chồng tôi và người bạn gái thân nhất đang làm chuyện đó. Tôi bị sốc và chỉ biết chôn chân đứng ngây dại nhìn hai người mà không biết làm gì.

Có điều tôi đã không khóc, không một giọt nước mắt nào. Tôi lặng lẽ ra khỏi nhà, và đi lang thang trên khắp các con phố, thất vọng, chán chường.

Hôm nay đã là ngày thứ ba sau khi sự việc xảy ra, tôi vẫn chưa biết mình nên làm gì với chồng, với cô bạn thân. Phải chăng tôi quá hiền?

Trần Ngọc H. (Hai Bà Trưng, Hà Nội)
Avatar

Phương pháp làm việc với trẻ có khó khăn về trí nhớ thị giác

(tamlyhoc.vn) PHƯƠNG PHÁP LÀM VIỆC VỚI TRẺ CÓ KHÓ KHĂN VỀ TRÍ NHỚ THỊ GIÁC (VISUAL MEMORY)

1. Thu hút sự chú ý của trẻ bằng  những hình ảnh, màu sắc, các đề mục gạch dưới, mũi tên….

 2. Tạo điều kiện cho trẻ tiếp xúc với thông tin thị giác nhiều lần trước khi đòi hỏi trẻ phải nhớ nó

 

 

3. Giảm đi các yếu tố gây xao nhãng về thị giác bằng cách cách ly thông tin mà bạn muốn trình bày cho trẻ ( Ví dụ: che thông tin khác trên trang giấy, chỉ tiếp xúc với một phần của bức tranh trong một khoảng thời gian…)

4. Khi trẻ cần nhớ lại thông tin, cung cấp các gợi ý về thị giác nhằm giúp trẻ nhớ lại thông tin trước đây đã được trình bày ( Ví dụ :sử dụng những từ khóa được viết trên bảng , tiếp xúc với một phần hay toàn bộ bức tranh …)

5. Khi trẻ cần nhớ thông tin, cung cấp các gợi ý thính giác nhằm giúp trẻ nhớ được thông tin trước đây đã được trình bày ( Ví dụ: nói những từ khoá, nói mô tả ngắn về điều trẻ đang nhớ nhằm gợi ý cho trẻ…)

 6. Khi trẻ cần nhớ thông tin, nhắc nhở trẻ tình huống mà thông tin được trình bày lần trước ( Ví dụ: Nhớ là ngày hôm qua khi chúng ta nói chuyện về…, nhớ là khi chúng ta đi dạo bên ngoài chúng ta nhìn thấy…)

 7. Cung cấp thông tin qua lời nói nhằm hổ trợ cho thông tin mà trẻ nhận được qua thị giác   ( Ví dụ :vừa cho trẻ xem tranh vừa nói về tranh đó)

 8. Dạy trẻ học thứ tự trước sau ( chuỗi) và liệt kê những thông tin theo từng đoạn ( Ví dụ: số điện thoại được học theo cách: 314 rồi 874 rồi 1710…)

 9.Cắt một bức tranh bằng giấy bìa cứng, cho trẻ xem thứ tự bức tranh rồi sau đó trộn lẫn chúng và yêu cầu trẻ đặt lại theo vị trí cũ

10.  Để cho trẻ chơi trò chơi có sự tập trung ( Ví dụ: ghép số, từ, biểu tượng… bằng cách xoay chúng để đổi vị trí và nhớ vị trí chúng ở đâu)

11.  Để cho trẻ đọc ( nếu trẻ biết) và theo hướng dẫn bước một, bước hai, bước ba

12.  Cung cấp cho trẻ các hướng dẫn được viết, các luật lệ và các bảng liệt kê. Khen thưởng trẻ nếu trẻ có thể nhớ được những thông tin đã được viết

 13.  Có thêm băng đĩa kể chuyện hoặc hướng dẫn, trẻ có thể vừa nghe thông tin trong khi đọc

14.  Yêu cầu trẻ nhớ lại ngày trong tuần, tháng trong năm, ngày sinh nhật, địa chỉ, số điện thoại… sau khi trẻ xem những thông tin này dưới dạng viết

15.  Dạy trẻ nhận ra các biểu tượng thị giác thông thường ( Ví dụ: biểu tượng dừng lại, chất độc, nguy hiểm…)

16.  Sử dụng đa phương thức ( Ví dụ: thính giác, thị giác, xúc giác…) khi trình bày các hướng dẫn, giải thích…xác định xem phương thức nào đối với trẻ là mạnh nhất và sử dụng kết quả đó

17. Giảm đi số lượng thông tin trên một trang giấy nếu nó gây xao nhãng thị giác của  trẻ ( Ví dụ: ít chữ để đọc, các ly thông tin muốn trình bày cho trẻ)

18. Cung cấp thông tin thính giác ( hướng dẫn bằng lời nói) nhằm trợ giúp thông tin thị giác mà trẻ nhận được ( Vừa nói vừa chỉ cho trẻ xem hình ảnh…)

19.  Xác định được đâu là phương thức học tập có hiệu quả nhất của trẻ và sử dụng nó một cách tương ứng nhằm gia tăng khả năng hiểu biết của trẻ ( Ví dụ nếu trẻ có khó khăn trong việc hiểu các thông tin bằng chữ viết thì có thể trình bày bằng lời nói)

20.Tô màu hoặc gạch dưới những thông tin quan trọng mà trẻ đọc ( Các hướng dẫn, đọc các phần được phân công làm, các vấn đề về từ ngữ toán học…)

21.Làm cho không khí vui vẻ và tích cực khi trẻ hỏi những câu hỏi mà trẻ không hiểu, khen thưởng trẻ bằng trợ giúp, chúc mừng, khen ngợi…

22. Đánh giá mức độ phù hợp của các nhiệm vụ nhằm xác định: a) Nếu nhiệm vụ quá khó ( ví dụ quá nhiều thông tin cần phải nhớ) hoặc b) Nếu thời gian cần để trẻ nhớ ra không thích hợp ( Ví dụ: thông tin được trình bày quá ngắn, thời gian cách giữa thông tin được trình bày và khi yêu cầu trẻ nhớ lại quá lâu…)

23. Khen thưởng trẻ khi trẻ nhớ được thông tin qua thị giác : a) Cho trẻ một phần thưởng cụ thể rõ ràng ( Ví dụ: có một ưu đãi trong lớp, người đứng điều khiển xếp hàng, năm phút nghỉ ngơi…) b) Cho trẻ một phần thưởng không cần cụ thể như lời khen ngợi, bắt tay, mỉm cười… 

Theo BS. Phan Thiệu Xuân Giang

 
Gửi ý kiến